Kiến thức, Cây Trà, Trà, Trà Đặc sản

Nguồn gốc của các loại trà: Lịch sử & xuất xứ 6 dòng trà

Nguồn gốc của các loại trà bắt đầu từ cây trà Camellia sinensis. Tìm hiểu lịch sử, xuất xứ và khác biệt giữa trà xanh, trắng, ô long, đen, phổ nhĩ.

Nguồn gốc của các loại trà quy về một loài cây duy nhất: cây trà Camellia sinensis, bản địa vùng Tây Nam Trung Quốc, Bắc Myanmar, Lào, Đông Bắc Ấn Độ và miền núi phía Bắc Việt Nam. Con người thuần hóa cây trà khoảng 5.000 năm trước. Trà xanh, trà trắng, trà vàng, ô long, trà đen và phổ nhĩ lần lượt ra đời qua các triều đại Trung Quốc rồi lan ra khắp thế giới. Khác biệt giữa các loại trà này đến chủ yếu từ cách chế biến.

Trong bài viết này, ILOTA đi theo đúng hành trình đó: cây trà đến từ đâu, trà được con người sử dụng và lan tỏa ra sao, từng dòng trà ra đời ở vùng nào, và vì sao cùng một lá trà lại cho ra nhiều hương vị khác nhau.

Nguồn gốc của các loại trà: Trà xanh, trà đen và trà Oolong có chung nguồn gốc?

Khám phá các giống trà chính và tìm hiểu sự khác biệt về đặc điểm, hương vị của từng giống qua bài viết: [Các giống trà chính: 3 họ thực vật chính định hình trà đặc sản]

Nguồn gốc của các loại trà quy về một loài cây duy nhất: cây trà Camellia sinensis, bản địa vùng Tây Nam Trung Quốc, Bắc Myanmar, Lào, Đông Bắc Ấn Độ và miền núi phía Bắc Việt Nam. Con người thuần hóa cây trà khoảng 5.000 năm trước. Trà xanh, trà trắng, trà vàng, ô long, trà đen và phổ nhĩ lần lượt ra đời qua các triều đại Trung Quốc rồi lan ra khắp thế giới. Khác biệt giữa các loại trà này đến chủ yếu từ cách chế biến.

Trong bài viết này, ILOTA đi theo đúng hành trình đó: cây trà đến từ đâu, trà được con người sử dụng và lan tỏa ra sao, từng dòng trà ra đời ở vùng nào, và vì sao cùng một lá trà lại cho ra nhiều hương vị khác nhau.

Nguồn gốc của trà: Cây trà Camellia sinensis đến từ đâu?

Cây trà (Camellia sinensis (L.) Kuntze) là cây thường xanh thuộc họ Chè (Theaceae). Vùng nguyên sản của cây nằm ở khu vực giao nhau giữa Tây Nam Trung Quốc (đặc biệt là Vân Nam), Bắc Myanmar, Lào, Đông Bắc Ấn Độ và miền núi phía Bắc Việt Nam. Đây là nơi người ta vẫn tìm thấy nhiều quần thể trà hoang dại và trà cổ thụ hàng trăm năm tuổi.

Theo các tổng quan di truyền học, cây trà được thuần hóa vào khoảng năm 3000 TCN. Nguồn gốc tiến hóa chính xác của loài vẫn còn tranh luận. Một nghiên cứu khác cho thấy cây trà gồm ba dòng di truyền: trà Trung Quốc lá nhỏ, trà Assam Trung Quốc và trà Assam Ấn Độ. Các dòng này được thuần hóa độc lập ở Trung Quốc và Ấn Độ.

Khi mọc tự nhiên, cây trà có thể cao hàng chục mét. Trong canh tác, người ta đốn tỉa cây xuống khoảng 0,8–1,2 m để cây ra nhiều búp và dễ thu hái.

Một điểm cần phân biệt: theo nghĩa chuyên môn, “trà” chỉ là đồ uống làm từ lá và búp cây Camellia sinensis. Các loại “trà” hoa cúc, bạc hà, atiso hay trà hoa vàng (Camellia chrysantha, một loài khác cùng chi) đều là trà thảo mộc, không phải trà theo nghĩa hẹp.

nguon-goc-cua-cac-loai-tra/

Lịch sử hình thành và lan tỏa của trà

Trà bắt đầu như một vị thuốc ở Trung Quốc, trở thành đồ uống phổ biến từ thời Đường, rồi theo con đường thương mại sang Nhật Bản, châu Âu và các thuộc địa. Hành trình này kéo dài hơn hai nghìn năm.

Từ truyền thuyết Thần Nông đến bằng chứng khảo cổ

Theo truyền thuyết, Thần Nông phát hiện trà khi lá trà rơi vào nồi nước đang đun, khoảng năm 2737 TCN. Đây là truyền thuyết, không phải sử liệu. Bằng chứng vật chất sớm nhất hiện biết là tàn tích lá trà trong lăng mộ Hán Cảnh Đế (mất năm 141 TCN) ở Tây An, có niên đại khoảng 2.100 năm. Thời Tây Hán, trà đã được mua bán như một loại hàng hóa.

Thời Đường – Tống: Trà thành đồ uống và thành văn hóa

Thời Đường (618–907), trà trở thành đồ uống phổ biến. Khoảng năm 760–780, Lục Vũ viết Trà Kinh, cuốn sách chuyên khảo đầu tiên về trà. Trà thời này chủ yếu là trà bánh: lá hấp, giã, ép thành bánh, khi uống thì nghiền ra nấu. Thời Tống (960–1279) chuộng trà bột đánh bọt. Năm 1191, thiền sư Eisai (Vinh Tây) mang hạt trà và cách uống trà bột từ Trung Quốc về Nhật Bản, đặt nền cho matcha và trà đạo Nhật.

Xem thêm về Trà Thánh Lục Vũ và sự tích “Kinh Trà” tại bài viết của ILOTA: [Trà Thánh Lục Vũ: Câu chuyện phía sau Kinh Trà và danh xưng “Trà Thánh”]

Thời Minh: Bước ngoặt trà lá rời

Năm 1391, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương bãi bỏ việc cống trà bánh, chuyển sang trà lá rời. Cách uống chuyển từ nghiền, đánh sang hãm lá trong nước nóng như ngày nay. Chính sự thay đổi này mở đường cho kỹ thuật sao chảo và cho sự ra đời của ô long, trà đen trong hai thế kỷ sau.

Tìm hiểu thêm về thời Chu Nguyên Chương và sự kiện “Phế Đoàn Cải Tán” tại bài viết của ILOTA: [Nguồn gốc của chén Khải (Gaiwan): Sự kiện “Phế Đoàn Cải Tán” dưới triều Chu Nguyên Chương năm 24]

Trà đến châu Âu và các thuộc địa

Năm 1610, Công ty Đông Ấn Hà Lan đưa những chuyến trà đầu tiên về châu Âu. Năm 1662, công chúa Bồ Đào Nha Catherine xứ Braganza kết hôn với vua Charles II và phổ biến thói quen uống trà trong hoàng gia Anh. Để thoát phụ thuộc vào trà Trung Quốc, người Anh tìm cách trồng trà ở thuộc địa. Năm 1823, cây trà bản địa được ghi nhận ở Assam (Ấn Độ). Năm 1839, lô trà Assam đầu tiên được bán đấu giá ở London. Sau khi dịch bệnh gỉ sắt tàn phá cà phê ở Ceylon (Sri Lanka) cuối thập niên 1860, đảo này chuyển sang trồng trà và trở thành cường quốc trà đen.

Tìm hiểu thêm về trà Assam tại bài viết của ILOTA: [Trà Assam: “Cơn bão” hương vị từ thung lũng Ấn Độ]

Xem thêm các bài viết liên quan tại đây:

Các mốc chính

Thời gianSự kiện
Khoảng 3000 TCNCây trà được thuần hóa ở vùng Tây Nam Trung Quốc và lân cận
Khoảng 2737 TCNTruyền thuyết Thần Nông phát hiện trà
Trước 141 TCNLá trà trong lăng mộ Hán Cảnh Đế, bằng chứng vật chất sớm nhất
760–780Lục Vũ viết Trà Kinh
1191Eisai mang trà bột về Nhật Bản
1391Nhà Minh chuyển từ trà bánh sang trà lá rời
Cuối thế kỷ XVI – XVIIÔ long và hồng trà (trà đen) hình thành ở Phúc Kiến
1610Trà đến châu Âu qua Công ty Đông Ấn Hà Lan
1662Catherine xứ Braganza phổ biến trà trong hoàng gia Anh
1823 – 1839Phát hiện trà Assam và bán lô trà Assam đầu tiên ở London
Cuối thế kỷ XIXCeylon (Sri Lanka) chuyển từ cà phê sang trà; người Pháp mở đồn điền chè ở Bắc Kỳ
1973Phổ nhĩ chín (thục trà) được phát triển ở Vân Nam

Nguồn gốc của từng loại trà

Sáu dòng trà chính đều xuất phát từ Trung Quốc, phần lớn từ Phúc Kiến, Vân Nam và vùng Giang Nam. Chúng ra đời ở những thời kỳ khác nhau, gắn với sự thay đổi trong cách chế biến.

nguon-goc-cua-cac-loai-tra/

Trà xanh – Dòng trà lâu đời nhất

  • Xuất xứ: Trung Quốc. Các danh trà tiêu biểu: Long Tỉnh (Hàng Châu, Chiết Giang), Bích Loa Xuân (Tô Châu, Giang Tô).
  • Thời kỳ: Có từ thời Đường – Tống dưới dạng trà hấp ép bánh. Kỹ thuật sao chảo phổ biến từ thời Minh.
  • Chế biến: Diệt men bằng nhiệt ngay sau khi hái (sao chảo ở Trung Quốc, Việt Nam; hấp hơi ở Nhật Bản), nên lá gần như không bị oxy hóa.
  • Đặc điểm: Nước xanh vàng, hương cốm, hương cỏ non, vị chát tươi. Ở Việt Nam, trà Thái Nguyên là dòng trà xanh nổi tiếng nhất.

Xem thêm về trà xanh tại bài viết của ILOTA: [Trà Xanh và các mùa trong năm – Bí quyết chọn vị trà tương thích theo mùa]

Trà trắng (Bạch trà) – Ít can thiệp nhất

  • Xuất xứ: Phúc Kiến, chủ yếu ở Phúc Đỉnh và Chính Hòa. Tiêu biểu: Bạch Hào Ngân Châm, Bạch Mẫu Đơn.
  • Thời kỳ: Dạng bạch trà hiện đại hình thành ở Phúc Kiến khoảng thế kỷ XIX, gắn với giống trà Phúc Đỉnh Đại Bạch nhiều lông tơ.
  • Chế biến: Chỉ làm héo và sấy khô, không vò, không diệt men. Lá oxy hóa nhẹ một cách tự nhiên trong lúc héo.
  • Đặc điểm: Nước vàng nhạt, hương mật, hương hoa khô, vị ngọt dịu.

Phân loại các loại bạch trà tại bài viết của ILOTA: [Phân biệt 3 loại Bạch Trà: Bạch Trà Mẫu Đơn, Bạch Trà Shan Tuyết và Bạch Trà Tiên sự khác biệt nằm ở đâu?]

Trà vàng (Hoàng trà) – Dòng trà hiếm nhất

  • Xuất xứ: Quân Sơn Ngân Châm (Hồ Nam), Mông Đỉnh Hoàng Nha (Tứ Xuyên), Hoắc Sơn Hoàng Nha (An Huy).
  • Thời kỳ: Phát triển mạnh từ thời Minh.
  • Chế biến: Làm như trà xanh, thêm bước “muộn hoàng”: ủ lá còn ấm trong giấy hoặc vải để lá chuyển vàng chậm.
  • Đặc điểm: Nước vàng sáng, vị êm hơn trà xanh, bớt hăng cỏ.
  • Lưu ý: Trà vàng khác hoàn toàn trà hoa vàng. Trà hoa vàng làm từ hoa của loài Camellia chrysantha, không phải từ lá cây trà.

Trà ô long – Đỉnh cao của kỹ thuật chế biến

nguon-goc-cua-cac-loai-tra/

  • Xuất xứ: Phúc Kiến, với hai trung tâm là núi Vũ Di (nham trà như Đại Hồng Bào) và An Khê (Thiết Quan Âm). Thế kỷ XIX, ô long theo người Phúc Kiến sang Đài Loan và phát triển thành các dòng cao sơn, Đông Đỉnh.
  • Thời kỳ: Cuối Minh – đầu Thanh (khoảng thế kỷ XVII–XVIII).
  • Chế biến: Làm héo, quay lắc cho dập mép lá để oxy hóa một phần (khoảng 10–80%), rồi sao diệt men, vò và sấy.
  • Đặc điểm: Dải hương rất rộng, từ hoa lan, hoa quế đến trái cây chín, mật ong, rang.

Tìm hiểu thêm về các loại trà liên quan tại các bài viết của ILOTA:

Trà đen (Hồng trà)

  • Xuất xứ: Làng Đồng Mộc, núi Vũ Di, Phúc Kiến, với Chính Sơn Tiểu Chủng (Lapsang Souchong) được xem là hồng trà đầu tiên. Kỳ Môn (An Huy) ra đời năm 1875.
  • Thời kỳ: Cuối Minh (khoảng thế kỷ XVI–XVII). Từ thế kỷ XIX, trà đen được sản xuất quy mô lớn ở Assam, Darjeeling (Ấn Độ) và Ceylon (Sri Lanka).
  • Chế biến: Làm héo, vò mạnh cho dập tế bào, để oxy hóa gần như hoàn toàn rồi sấy.
  • Tên gọi: Người Trung Quốc gọi là hồng trà theo màu nước đỏ. Người phương Tây gọi là black tea theo màu lá khô.
  • Đặc điểm: Nước đỏ nâu, hương mạch nha, mật ong, trái cây sấy. Vị đậm, hợp pha với sữa.

Tìm hiểu thêm về các loại trà liên quan tại đây:

Hắc trà và trà Phổ Nhĩ – Trà lên men vi sinh

  • Xuất xứ: Phổ Nhĩ đến từ Vân Nam, mang tên phủ Phổ Nhĩ, nơi tập kết trà trên con đường Trà Mã cổ đạo. Các hắc trà khác: An Hóa (Hồ Nam), Lục Bảo (Quảng Tây).
  • Thời kỳ: Trà ép bánh Vân Nam được buôn bán sang Tây Tạng từ hơn một nghìn năm trước. Phổ nhĩ chín (thục trà) được phát triển năm 1973 bằng kỹ thuật ủ đống.
  • Chế biến: Lá được làm thành mao trà, sau đó lên men nhờ vi sinh vật: ủ tự nhiên qua nhiều năm (phổ nhĩ sống) hoặc ủ đống nhanh (phổ nhĩ chín). Đây là lên men thật sự, khác với oxy hóa bằng enzyme của trà đen.
  • Đặc điểm: Hương gỗ, hương đất, thuốc bắc; càng để lâu vị càng êm.

Tìm hiểu thêm về các dòng trà liên quan tại bài viết của ILOTA:

Khác biệt giữa các loại trà đến từ đâu?

Sự khác biệt giữa các loại trà chủ yếu đến từ mức độ oxy hóa, tức là việc người làm trà cho phép enzyme trong lá hoạt động bao lâu trước khi dùng nhiệt để dừng lại.

Khi lá trà bị làm héo, vò hoặc dập, enzyme polyphenol oxidase tiếp xúc với catechin (nhóm polyphenol chính trong lá). Catechin bị oxy hóa thành theaflavin và thearubigin. Đây là những chất tạo màu đỏ nâu và vị đậm cho trà đen. Lá chuyển dần từ xanh sang nâu đỏ, hương cỏ non nhường chỗ cho hương hoa, trái cây rồi mạch nha.

Bước diệt men (sao chảo, hấp hơi) dùng nhiệt để bất hoạt enzyme và “đóng băng” lá ở mức oxy hóa mong muốn:

  1. Diệt men ngay sau khi hái → trà xanh.
  2. Không diệt men, chỉ héo và sấy → trà trắng.
  3. Diệt men rồi ủ vàng → trà vàng.
  4. Cho oxy hóa một phần rồi mới diệt men → ô long.
  5. Vò mạnh, để oxy hóa gần hết, không diệt men → trà đen.
  6. Diệt men, phơi, rồi lên men vi sinh → hắc trà, phổ nhĩ.

Tìm hiểu thêm về phương pháp diệt men qua bài viết của ILOTA: [Phương pháp diệt men là gì? Khoa học đằng sau bước quyết định Trà Xanh hay Trà Đen]

Xem thêm về oxy hóa và lên men trà tại bài viết của ILOTA: [Oxy hóa và lên men trà: Bí mật đằng sau hương vị tinh túy]

Xem tổng quan về các thuật ngữ chế biến trà tại bài viết của ILOTA: [Giải nghĩa các thuật ngữ chế biến trà đặc sản: Mao trà, Sát thanh, Bồi hỏa, Môn hoàng… là gì?]

Ngoài chế biến, giống cây, thổ nhưỡng, độ cao, mùa hái và phần lá được hái (một tôm hai lá hay lá bánh tẻ) cũng quyết định hương vị cuối cùng.

nguon-goc-cua-cac-loai-tra/

Bảng so sánh khác biệt giữa các loại trà

Dòng tràXuất xứThời kỳ hình thànhMức oxy hóaHương vị đặc trưngNhiệt độ pha gợi ý
Trà xanhChiết Giang, Giang Tô (Trung Quốc); Nhật Bản; Thái Nguyên (Việt Nam)Đường – Tống, sao chảo từ thời MinhGần như khôngCốm, cỏ non, chát tươi75–80°C
Trà trắngPhúc Đỉnh, Chính Hòa (Phúc Kiến)Khoảng thế kỷ XIXNhẹ, tự nhiênMật, hoa khô, ngọt dịu80–90°C
Trà vàngHồ Nam, Tứ Xuyên, An HuyThời MinhNhẹ (ủ vàng)Êm, ngọt, ít hăng75–85°C
Ô longVũ Di, An Khê (Phúc Kiến); Đài LoanThế kỷ XVII – XVIIIKhoảng 10–80%Hoa, trái cây, mật ong, rang85–95°C
Trà đenVũ Di (Phúc Kiến); Assam, Darjeeling, Sri LankaThế kỷ XVI – XVIIGần như hoàn toànMạch nha, mật ong, trái cây sấy90–100°C
Phổ nhĩ / hắc tràVân Nam, Hồ Nam, Quảng TâyTrà bánh từ hơn 1.000 năm trước; phổ nhĩ chín từ 1973Lên men vi sinhGỗ, đất, thuốc bắc95–100°C

Về caffeine: lượng caffeine trong một tách phụ thuộc vào giống của các loại trà, phần lá (búp non nhiều hơn lá già), lượng trà và thời gian hãm nhiều hơn là phụ thuộc vào loại trà. Vì vậy không nên xếp hạng caffeine cứng theo dòng trà.

Giống của các loại trà: Lá nhỏ và lá to

Cây trà Camellia sinensis được chia thành hai biến chủng chính. Giống cây ảnh hưởng đến hương vị, nhưng không quyết định cứng nhắc loại trà được làm ra.

nguon-goc-cua-cac-loai-tra/

Camellia sinensis var. sinensis – Giống lá nhỏ

  • Vùng trồng: Đông và Đông Nam Trung Quốc (Chiết Giang, Phúc Kiến, An Huy), Nhật Bản, Đài Loan. Ở Việt Nam, giống chè Trung du ở Thái Nguyên, Phú Thọ thường được xếp gần nhóm này.
  • Hình thái: Cây bụi, lá nhỏ và dày, chịu lạnh tốt.
  • Sinh hóa: Nhiều axit amin (đặc biệt L-theanine), ít polyphenol hơn, cho vị ngọt thanh, hương tinh tế.
  • Thường dùng làm: Trà xanh, trà trắng, ô long.

Camellia sinensis var. assamica – Giống lá to

  • Vùng trồng: Assam (Ấn Độ), Vân Nam (Trung Quốc), Bắc Myanmar, Bắc Lào và miền núi phía Bắc Việt Nam.
  • Hình thái: Thân gỗ, có thể cao hàng chục mét nếu để tự nhiên; lá to, mỏng, ưa khí hậu ấm ẩm.
  • Sinh hóa: Nhiều polyphenol và caffeine, vị đậm, chát mạnh.
  • Thường dùng làm: Trà đen, phổ nhĩ. Tuy vậy giống lá to vẫn làm được trà xanh ngon, ví dụ trà xanh Vân Nam (Điền Lục), mao trà phổ nhĩ sống và trà xanh Shan Tuyết của Việt Nam.

Trà Shan Tuyết cổ thụ của Việt Nam là cây thân gỗ lá to, thường được xếp vào nhóm assamica (một số tài liệu tách riêng thành var. shan).

Nguồn gốc trà Việt Nam

Việt Nam nằm trong vùng nguyên sản của cây trà. Miền núi phía Bắc còn nhiều quần thể trà Shan Tuyết cổ thụ, là bằng chứng sống cho điều đó.

nguon-goc-cua-cac-loai-tra/

  • Trà Shan Tuyết cổ thụ: Mọc ở độ cao lớn tại Hà Giang, Yên Bái (Suối Giàng), Sơn La (Tà Xùa), Lào Cai. Nhiều cây có tuổi đời hàng trăm năm, búp phủ lông tơ trắng như tuyết nên có tên “Shan Tuyết”.
  • Chè Trung du: Giống lá nhỏ trồng lâu đời ở vùng trung du Bắc Bộ, làm nên trà xanh Thái Nguyên nổi tiếng.
  • Thời Pháp thuộc: Cuối thế kỷ XIX, người Pháp lập đồn điền chè ở Bắc Kỳ. Năm 1918, trạm nghiên cứu chè Phú Hộ (Phú Thọ) ra đời. Đầu thế kỷ XX, chè được đưa lên cao nguyên Lâm Đồng.
  • Ngày nay: Việt Nam nằm trong nhóm các nước sản xuất và xuất khẩu chè lớn trên thế giới.

Xem thêm các bài viết liên quan của ILOTA:

ILOTA và tiêu chuẩn đánh giá nguồn gốc của các loại trà

Trong ngành dịch vụ đồ uống chuyên nghiệp, việc hiểu rõ nguồn gốc của các loại trà không chỉ là kiến thức nền tảng mà còn là tiêu chuẩn để kiểm soát chất lượng. Tại ILOTA, quá trình tuyển chọn nguyên liệu luôn bắt đầu từ việc truy xuất nguồn gốc của trà ngay tại nông trường.

Dù khai thác trà xanh, trà đen hay Oolong, ILOTA luôn tuân thủ nguyên tắc bám sát đặc tính sinh học của cây trà Camellia sinensis. Các chuyên gia phát triển sản phẩm của ILOTA hiểu rằng, không thể áp dụng quy trình làm trà xanh lên một giống trà lá to (Assamica) được trồng ở vùng nắng nóng, vì nước trà sẽ có vị chát gắt không thể uống được. 

Ngược lại, giống của các loại trà lá nhỏ (Sinensis) mọc ở vùng núi cao mây mù quanh năm sẽ được ILOTA ưu tiên cho các dòng trà xanh hoặc Oolong để tận dụng tối đa hương hoa cỏ tự nhiên và vị ngọt hậu sâu lắng.

Nhờ việc nắm vững sự khác biệt giữa các loại trà từ khâu nuôi trồng, canh tác đến quy trình oxy hóa, ILOTA có khả năng kiểm soát độ ổn định của sản phẩm cuối cùng. Từng búp trà khi đưa vào dây chuyền pha chế đều bung tỏa đúng hương vị nguyên bản mà bản chất sinh học của chúng quy định.

Câu hỏi thường gặp về nguồn gốc của các loại trà

Trà có nguồn gốc từ nước nào? Cây trà có nguồn gốc ở vùng Tây Nam Trung Quốc và các vùng lân cận gồm Bắc Myanmar, Lào, Đông Bắc Ấn Độ và Bắc Việt Nam. Trung Quốc là nơi đầu tiên dùng trà làm đồ uống và phát triển các kỹ thuật chế biến trà.

Trà xanh và trà đen có làm từ cùng một cây không? Có. Cả hai đều làm từ lá cây Camellia sinensis. Trà xanh được diệt men ngay để không oxy hóa, còn trà đen được để oxy hóa gần như hoàn toàn.

Loại trà nào ra đời đầu tiên? Trà xanh, dưới dạng trà hấp ép bánh thời Đường – Tống. Ô long và trà đen chỉ hình thành từ cuối thời Minh, sau khi trà lá rời trở nên phổ biến.

Việt Nam có phải quê hương của cây trà không? Miền núi phía Bắc Việt Nam nằm trong vùng nguyên sản của cây trà, với nhiều quần thể Shan Tuyết cổ thụ. Tuy vậy, trung tâm khởi nguồn chính xác của loài vẫn còn được giới khoa học nghiên cứu.

Trà thảo mộc có phải là trà không? Về mặt chuyên môn thì không. Trà hoa cúc, trà gừng, trà atiso hay trà hoa vàng không chứa lá Camellia sinensis, nên được gọi là trà thảo mộc hoặc nước sắc thảo mộc.

Trà vàng và trà hoa vàng khác nhau thế nào? Trà vàng là một dòng trà làm từ lá Camellia sinensis, có bước ủ vàng. Trà hoa vàng làm từ hoa của loài Camellia chrysantha, một loài cây khác.

Trích dẫn tài liệu tham khảo

Để đảm bảo tính chính xác về mặt khoa học nông nghiệp và sinh hóa trong bài viết, nội dung phân tích nguồn gốc của các loại trà được tổng hợp và đối chiếu từ các nguồn tài liệu uy tín sau:

  1. Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO): Các báo cáo và tài liệu khoa học về định nghĩa thực vật học của cây trà Camellia sinensis, sự phân bổ địa lý của giống var. sinensis và var. assamica trong bản đồ nông nghiệp thế giới.
  2. Tea Association of the U.S.A. (Hiệp hội Trà Hoa Kỳ): Tài liệu tiêu chuẩn hóa các định nghĩa về mức độ oxy hóa, quy trình chế biến cốt lõi tạo ra sự khác biệt giữa các loại trà (Green, Oolong, Black tea).
  3. Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc (NOMAFSI) – Việt Nam: Các nghiên cứu khoa học, bài báo và tạp chí nông nghiệp về kỹ thuật canh tác, phân định đặc tính sinh hóa của các giống của các loại trà được trồng tại Việt Nam, bao gồm các biến chủng chè lá nhỏ và chè lá to.
  4. Tạp chí khoa học Food Chemistry: Các nghiên cứu phân tích về sự biến đổi của hợp chất polyphenol và enzym trong quá trình vò và oxy hóa lá trà.

Kết luận

Nguồn gốc của các loại trà quy về một cây duy nhất và một vùng đất chung ở Đông Nam Á lục địa. Từ trà bánh thời Đường đến trà lá rời thời Minh, từ Phúc Kiến đến Assam và Sri Lanka, mỗi dòng trà là kết quả của một kỹ thuật chế biến ra đời trong một hoàn cảnh lịch sử riêng. Hiểu hành trình đó giúp bạn chọn trà, pha trà và đánh giá chất lượng trà chính xác hơn.

Tại ILOTA, việc chọn nguyên liệu bắt đầu từ giống cây và vùng trồng. Trà Shan Tuyết từ vùng núi cao phía Bắc được chế biến thành trà xanh, trà trắng và hồng trà tùy đặc tính từng lô. Các dòng trà pha chế được phối theo mức oxy hóa phù hợp với menu của quán.

👉 Khám phá ngay: [Các dòng trà của ILOTA và lựa chọn sản phẩm phù hợp để tạo nên những thức uống đặc trưng cho menu của quán]

 

 

 

 

 

 

ILOTA  – Xưởng sản xuất Cà phê & Trà

  • Tư vấn & Đặt hàng:

👉 Mua sỉ, kênh quán, OEM: 0989 099 033 (Anh Thắng)

👉 Mua lẻ: 0988 345 175 (Thái Sơn)

Facebook: ILOTA Coffee and Tea

Địa chỉ: Biệt thự 3, ngõ 2A Chế Lan Viên, phường Đông Ngạc, Hà Nội.